Ulaanbaatar, ngày 14 tháng 9 năm 2026 /MONTSAME/. Hãng thông tấn quốc gia MONTSAME phối hợp với Công ty TNHH Chứng khoán MICC (MICC Mongolia International Capital Corporation) cung cấp tới độc giả bản tổng hợp hàng tuần về thị trường chứng khoán trong nước và quốc tế, cũng như tình hình kinh tế của Mông Cổ.
TỔNG QUAN HÀNG TUẦN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ KINH TẾ
(Từ ngày 07/09/2026 đến 13/09/2026)
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN MÔNG CỔ
Trong tuần qua, tại Sở Giao dịch Chứng khoán Mông Cổ đã giao dịch 13,7 triệu chứng khoán, với tổng giá trị 6,81 tỷ tugrik.
Xét về giá trị giao dịch, các mã được giao dịch tích cực nhất gồm Ngân hàng Khan, MGL Aqua, Tavan Tolgoi, APU và quỹ đầu tư Future Tech Innovation (FTI).
Trong thời gian này có một giao dịch theo lô. Cụ thể:
MGL Aqua (MGLA): 4,5 triệu chứng khoán được giao dịch với giá 276,18 tugrik/cổ phiếu, tổng giá trị 1,2 tỷ tugrik.
Trong tuần qua, diễn biến chung của thị trường tương đối yếu, với xu hướng giảm chiếm ưu thế ở các chỉ số TOP-20 và FTI. Trong khi đó, chỉ số MSE A tăng nhẹ, cho thấy xu hướng tích cực ở một số bộ phận của thị trường.
Chỉ số FTI giảm 1,23%, cho thấy nhóm cổ phiếu có vốn hóa nhỏ và trung bình có kết quả tương đối yếu. Do đó, mặc dù xu hướng chung của thị trường hơi tiêu cực, một số ngành và cổ phiếu vẫn còn tiềm năng tăng trưởng.
Nhìn chung, thị trường có xu hướng hơi tiêu cực, nhưng sự quan tâm của các nhà đầu tư đối với những công ty lớn, có tình hình tài chính tốt vẫn được duy trì.
NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TĂNG 2,6 LẦN TRONG 3 NĂM, LÊN 4,4 TỶ USD
Đến cuối quý II/2026, nợ nước ngoài của các ngân hàng thương mại Mông Cổ đạt 4,4 tỷ USD, tăng 1,3 tỷ USD, tương đương 41,2% so với cùng kỳ năm trước.
So với quý II/2023, nợ nước ngoài của các ngân hàng đã tăng 2,6 lần, chiếm 11,4% tổng nợ nước ngoài.
Xét theo cơ cấu tổng nợ nước ngoài, đầu tư trực tiếp và các khoản vay giữa các công ty chiếm 17,6 tỷ USD, tương đương 45,0%; Chính phủ chiếm 8,4 tỷ USD, tương đương 21,5%; các ngành khác chiếm 7,6 tỷ USD, tương đương 19,3%; các ngân hàng thương mại chiếm 4,4 tỷ USD, tương đương 11,4%.
Trong khi nợ của các ngân hàng tăng 41,2%, nợ nước ngoài của Chính phủ giảm 3,2%, đầu tư trực tiếp và các khoản vay giữa các công ty giảm 1,9%, còn nợ nước ngoài của Ngân hàng Trung ương Mông Cổ giảm 29,5%.
Việc gia tăng nguồn vốn nước ngoài của các ngân hàng giúp đa dạng hóa nguồn vốn tín dụng, nhưng đồng thời cũng làm tăng rủi ro về tỷ giá, chi phí huy động vốn nước ngoài và tái cấp vốn.
Vì vậy, trong thời gian tới, ngoài quy mô nợ, cần chú ý đến việc nguồn vốn này được sử dụng cho những loại hình tín dụng và đầu tư nào, cũng như mức độ ổn định trong công tác quản lý rủi ro ngoại tệ của các ngân hàng.
Đồng thời, nợ trong nước của Chính phủ tăng 60,2%, lên 2,0 nghìn tỷ tugrik, cho thấy việc sử dụng các nguồn vốn trong nước cho nhu cầu tài chính của Nhà nước đang gia tăng.
GIÁ TRỊ THỊ TRƯỜNG CỦA SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN MÔNG CỔ TĂNG, SỐ CÔNG TY CÓ VỐN HÓA TRÊN 3 NGHÌN TỶ TUGRIK ĐÃ LÊN HAI
Trên thị trường cổ phiếu của Sở Giao dịch Chứng khoán Mông Cổ, giá trị của các công ty lớn đã tăng lên, đưa số công ty có vốn hóa thị trường trên 3 nghìn tỷ tugrik lên con số hai.
Giá cổ phiếu Tavan Tolgoi (TTL) tăng 37,7% chỉ trong một tuần, đưa vốn hóa thị trường lên 3,2 nghìn tỷ tugrik. Trong thời gian ngắn, TTL đã vượt Ngân hàng Khan (KHAN) và trở thành công ty có vốn hóa lớn nhất trên sàn.
Tuy nhiên, tính đến cuối phiên thứ Sáu tuần qua, giá cổ phiếu TTL giảm 5,4%, trong khi cổ phiếu KHAN tăng 2,6%, qua đó Ngân hàng Khan lại đứng đầu về vốn hóa thị trường.
Xét về cơ cấu vốn hóa, trong số 5 công ty có giá trị thị trường trên 1 nghìn tỷ tugrik, có 3 công ty thuộc lĩnh vực ngân hàng. Điều này cho thấy ngân hàng và khai khoáng vẫn là những động lực chính của thị trường cổ phiếu Mông Cổ.
Mặc dù đã xuất hiện các công ty vượt mốc 3 nghìn tỷ tugrik, nhưng không có công ty nào có mức vốn hóa vào khoảng 2 nghìn tỷ tugrik. Điều này cho thấy có sự chênh lệch nhất định về giá trị giữa các công ty lớn.
Theo số liệu của Sở Giao dịch Chứng khoán Mông Cổ, từ ngày 7 đến 11/9, tổng giá trị giao dịch đạt 872,2 tỷ tugrik.
Trong đó, giao dịch than đá đạt 699,4 tỷ tugrik, quặng sắt 9,2 tỷ tugrik, tinh quặng molypden 56,8 tỷ tugrik, còn 106,8 tỷ tugrik là giao dịch chứng khoán.
Điều này cho thấy không chỉ thị trường cổ phiếu mà cả giao dịch các sản phẩm khai khoáng cũng đóng góp đáng kể vào tổng mức độ hoạt động của sàn giao dịch.
XUẤT KHẨU TĂNG 57,2% SO VỚI CÙNG KỲ NĂM TRƯỚC
Trong 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Mông Cổ đạt 14,4 tỷ USD, tăng 5,2 tỷ USD, tương đương 57,2% so với cùng kỳ năm trước.
Kết quả là cán cân thương mại quốc tế đạt thặng dư 6,0 tỷ USD, tăng 3,6 lần so với cùng kỳ năm trước.
Tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu được hỗ trợ bởi nguồn cung các sản phẩm khai khoáng. Xuất khẩu quặng và tinh quặng đồng tăng 2,8 tỷ USD, trong khi xuất khẩu than đá tăng 1,9 tỷ USD.
Ngoài ra, xuất khẩu vàng chưa gia công và vàng bán chế biến tăng 255,6 triệu USD, còn xuất khẩu cashmere chải kỹ tăng 97,1 triệu USD, góp phần quan trọng vào việc gia tăng doanh thu xuất khẩu.
Xét cơ cấu tổng kim ngạch xuất khẩu, quặng và tinh quặng đồng chiếm 43,7%, than đá chiếm 37,0%. Hai mặt hàng này cộng lại chiếm hơn 80% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, tỷ trọng xuất khẩu vàng đạt 5,6%.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu chủ yếu của Mông Cổ. Mông Cổ đã xuất khẩu 13,3 tỷ USD hàng hóa sang Trung Quốc, chiếm 92,7% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Trong số hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc, quặng và tinh quặng đồng chiếm 47,1%, còn than đá chiếm 40,7%.
Những số liệu trên cho thấy trong 8 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng xuất khẩu của Mông Cổ chủ yếu chịu tác động bởi sự gia tăng về khối lượng và giá trị xuất khẩu quặng, tinh quặng đồng và than đá. Ngành khai khoáng tiếp tục là nguồn thu chủ yếu từ hoạt động xuất khẩu của Mông Cổ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét